phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Hoằng Pháp

Giới của Tỳ khưu Tăng

Ngày đăng tin: 2016-09-12 14:11:40
(5/1)
Bài pháp giảng của Đại đức Gs. Tiến sĩ Thiện Minh tại Thiền viện Bồ Đề, Tp. Vũng Tàu, Tu nữ Quang Duyên ghi chép.
Giới của Tỳ khưu Tăng

Namo tassa bhagavato arahato samma sambuddhassa

 Đệ tử thành kính tán dương ân đức tam bảo là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Xin gởi đến quý vị 5 pháp chúc mừng là: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh, trí tuệ sáng suốt. Mong cho 5 điều này thường gia tăng đến toàn thể quý vị.

 Nam mô Phật Pháp Tăng tam bảo!

Hôm nay, khóa tu niệm phật lần thứ 17 tại Thiền viện Bồ Đề - TP Vũng Tàu, thời giảng pháp cóchủ đề ‘’Giới của tỳ khưu tăng’’. Sở dĩ Sư chọn đề tài này vì muốn ghi lại làm bài giảng chuyên đề để giúp cho các vị tân tỳ kheo ổn lại giới luật của mình đã thọ và cư sĩ tại gia biết về giới luật của người xuất gia, nhằm gìn giữ, hộ trì người xuất gia tu hành tốt thêm.

Theo Hán tạng, người cư sĩ không được nghe giới luật tỳ kheo. Nhưng theo Pali tạng thì giới luật phải được công bố để các vị sa di hoặc người cư sĩ tại gia biết giới luật qua đó sẽ giúp cho việc giữ giới của các vị tỳ kheo tốt hơn. 

Hôm nay là ngày 16 âm lịch. Thường thông lệ các ngôi chùa Phật giáo Nam tông tổ chức tụng giới vào ngày 15 và 30 âm lịch hằng tháng. Tu nữ xin giới tu nữ, sa di xin giới sa di, tỳ kheo tụng 227 giới bổn. Thông thường muốn thọ tỳ kheo thì phải thọ 10 giới sa di: Không sát sanh; không trộm cắp; không tà dâm; không nói dối; không uống rượu; không ăn sái giờ; không múa hát, thổi kèn, đánh đàn; không dồi phấn, đeo tràng hoa, trang điểm thoa dầu thơm; không nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp; không giữ tiền, vàng bạc, châu báu.

Bên tỳ kheo ni cũng vậy. Muốn trở thành tỳ kheo ni cũng bắt đầu từ 10 giới kể trên. Mười giới này là căn bản, nền tảng của luật tạng, của đời sống phạm hạnh cho người xuất gia. Sự tinh túy của mười giới này nằm ở 5 giới đầu (Không sát sanh; không trộm cắp; không tà dâm; không nói dối; không uống rượu) là những giới giúp người xuất gia tu dưỡng đạo đức để có nền tảng tu hành chân thật, chắc chắn. Còn 5 giới sau ( Không ăn sái giờ; không múa hát, thổi kèn, đánh đàn; không dồi phấn, đeo tràng hoa, trang điểm thoa dầu thơm; không nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp; không giữ tiền, vàng bạc, châu báu) là những giới nhằm giúp cho người xuất gia biết thiểu dục và tri túc, không rơi vào đời sống xa hoa phù phiếm dễ làm mất đi sự thanh tịnh, nội lực của người tu hành. Ví dụ giữ giới không múa hát, nếu tự mình nhảy múa, ca hát, thổi kèn, đánh đàn; hoặc sai bảo người khác nhảy múa, ca hát, thổi kèn, đánh đàn do bởi tâm tham ái là nhân sinh khổ, nghịch với pháp hành giới-định-tuệ không dẫn đến giải thoát khổ trong Phật giáo. Đó là điều nên tránh xa, tự mình không nên hành động, cũng không nên sai bảo người khác hành động như vậy. Đó là một điều giới mà người tu phải tránh xa để khỏi phạm lỗi.

Một vị xuất gia đã thọ giới sa di, khi đủ 20 tuổi và thông thạo giới luật, có oai nghi chánh hạnh thì được phép thọ giới tỳ kheo. Thông thường buổi lễ thọ giới tỳ kheo trong chùa phải có một vị hòa thượng bổn sư, hai vị thầy Yết ma và khoảng hơn 20 vị tỳ kheo tham dự gọi tăng chứng. Sở dĩ như vậy là để phòng khi trong tăng chúng có những vị đạo đức chưa trong sạch thì con số 20 vị tỳ kheo tham dự sẽ bù trừ cho sự thiếu thốn ấy. Tăng sự hợp pháp, Hoà thượng Bổn sư thường phải đủ 10 hạ Tỳ kheo trở lên; vị Yết ma phải đủ 5 hạ Tỳ kheo trở lên; buổi lễ cử hành trong Sima thanh tịnh; tăng chứng vùng khan hiếm chư tăng tối thiểu là 4 vị tăng chứng; nếu đủ 21 vị thì quá đầy đủ, càng nhiều càng tốt.

Một buổi lễ thọ giới tỳ kheo diễn ra theo trình tự như sau: 

Một vị tỳ kheo đọc tác bạch tuyên ngôn, trước đó vị tỳ kheo hướng dẫn sẽ hỏi vị sa di xin thọ giới tỳ kheo như sau : Bát có chưa ?, y có chưa?, có mắc nợ hay không?, cha mẹ có cho phép hay không?  Đó là hình thức chất vấn sa di trước khi vị ấy tu lên tỳ kheo. Sau đó vị Yết ma đọc 4 lần tác bạch tuyên ngôn. thực hiện xong nghi thức trên, Vị sa di chính thức trở thành tỳ kheo. Sau khi đã thành tỳ kheo, thầy bổn sư giáo giới rằng vị Tân tỳ kheo phải thực hiện 4 pháp nương nhờ: Đi khất thực, mặc quẩn tảo y, ngụ dưới gốc cây, dùng dược phẩm nước tiểu bò. Nếu bốn điều trên có thí chủ cúng dường vị tỳ kheo cũng có thể thọ lãnh, điều đó cho chúng ta thấy rằng phật dạy hàng đệ tử sống tu không quá khiêm khắc, vì nghiêm khắc quá trở thành khổ hạnh, dễ dãi quá trở thành lợi dưỡng, vấn đề là ở thuyết trung đạo. Lại nữa, vị tân tỳ kheo không phạm: Hành dâm, trộm cắp, giết người, khoe pháp cao nhân, đó là những giới trọng phải nghiêm túc thực hành. Đồng thời lúc bây giờ vị tân tỳ kheo này phải gìn giữ 227 giới luật của tỳ kheo, nhằm trang nghiêmtrong đời sống phạm hạnh của người xuất gia. 

Trong đạo Phật, giới luật rất quan trọng. Chúng ta thường nghe Giới Định Tuệ. Giới có thì định, tuệcó. Giới vững thì hành thiền tốt. Giới trong sạch thì ngồi thiền mới định được, có định thì mới phát triển được trí tuệ. Vì muốn giữ giới phải có nghị lực, ý chí, quyết tâm. Nếu không giữ giới thì tự nhiên tâm lúc nào cũng cảm thấy lo âu, không tập trung thì ngồi thiền làm sao định được. Ví dụ, hành thiền mà uống rượu thì làm sao hành thiền có kết quả? Phật dạy có giới mới có định, tuệ. Ví như ở đời, muốn xây nhà 10 tầng thì các kỹ sư phải tính toán kết cấu làm sao để nền móng có trọng tải gánh được sức nặng 10 tầng của căn nhà. Qúy vị biết ở tỉnh Thái Bình vừa rồi người ta xây một tượng Phật cao 45 m nhưng trong 3 năm đã bị sập. Sau đó, tìm hiểu mới biết là kết cấu trong lòng tượng có 7 cây cột, nhưng thi công đãbỏ bớt 3 cây cột, chỉ còn 4 cây cột nên nó chịu không nổi nó sập. 

Trở lại với việc giữ giới thì quý vị thường nghe nói người xuất gia tỳ kheo giữ 227 giới. Nhưng Phật nói, một vị tỳ kheo phải giữ TỨ THANH TỊNH GIỚI (Catupàrisuddhisila) là:

1) Biệt biệt giải thoát thu thúc giới (Pàtimokkhasamvara sila).
2) Lục căn thu thúc giới (Indriyasamvara sila).
3) Chánh mạng thu thúc giới (Àjìvapàrisuddhi sila
4) Quán tưởng thọ vật dụng giới (paccayasannissta sila).

Xin giải thích thêm như sau :Trong 4 thanh tịnh giới này thì giới thứ 2: Lục căn thu thúc giới (indriyasamvarasila), giới thứ 3: Chánh mạng thu thúc giới (àjìvapàrisuddhisila) và giới thứ 4: Quán tưởng thọ vật dụng giới (paccayasannisstasila ) xuất hiện khá sớm sau khi Phật thành đạo. Vì ngay từ đầu truớc khi Phật thành đạo những giới đó có rồi. Sau này, khi tỳ kheo phạm giới bị nhiều người lên án, từ đó Phật chế ra giới luật. 

Trong đời sống tu tập của một vị tỳ kheo có 4 loại giới gọi là THANH TỊNH GIỚI kể trên.

I/ Biệt biệt giải thoát giới: tỳ kheo phải giữ 227 giới gồm : 4 giới bất cộng trụ (Parajika), 13 giới tăng tàn (Sanghadisesa), 2 Bất định (Aniyata), 30 Ưng xả đối trị (Nissaggiya Pacittiya), 92 giới ưng đối trị (Suddhiya Pacittiya) , 4 giới ưng phát lộ (Patidesaniya), 75 Ưng học pháp (Sekhiyavatta) tổng cộng 227 giới luật của Tỳ kheo được đức phật ban hành trong luật tạng Pali.

- 4 giới bất cộng trụ là giới nặng nhất của tỳ kheo: Hành dâm, trộm cắp, giết người, khoe pháp cao nhân. Linh hồn  của tỳ kheo nằm trong 4 giới này. Trong đó giới hành dâm là giới nói đến đầu tiên, vì tỳ kheo là phải sống phạm hạnh. Trong giới trộm cắp, nếu lấy những vật có giá trị tương đương khoảng 500.000đ  thì không còn là tỳ kheo nữa. Những người trụ trì, giữ tiền tam bảo, sử dụng tiền của bá tánh cúng dường tam bảo nếu không khéo dễ phạm giới này. Giới thứ 3 giết người, nếu sa di giết một con chó thì phạm tội trục xuất, tỳ kheo giết một con chó thì chưa phạm tội. Điều thứ 4 là khoe pháp cao nhân, là chưađắc đạo mà khoe đắc đạo, chưa đắc thiền mà khoe đắc thiền, không giữ giới mà khoe giữ giới v.v…để được sự cung kính, cúng dường. Ngày nay, nghe ai tự xưng là A la hán, khoe đắc đạo, xưng là bậc chí tôn, bậc có tuệ giác, thần thông v.v…những người đó đã phạm vào bất cộng trụ. Giới này là trong giới của người xuất gia tỳ kheo.

- 13 giới tăng tàn: phạm giới có thể sám hối được. Phạm các giới này, nếu vị tỳ kheo che dấu lỗi bao nhiêu ngày thì hành phạt bấy nhiêu ngày. Ví dụ dấu 1 năm thì hành phạt 1 năm. Nếu tỳ kheo trình lên, thì thọ hành phạt xong rồi mới được đi sám hối, lúc đó thì mới hết lỗi. Trong 13 điều tăng tàn, có một số liên quan đến tâm sinh lý của người xuất gia, có điều liên hệ với xã hội. Ví dụ người  xuất gia không được làm mai mối cho hai ngườitrở thành vợ chồng. Nếu vị tỳ kheo giới thiệu cho hai người trở thành vợ chồng sẽ phạm giới tăng tàn. Vì bổn phận của người xuất gia là thực hành chánh pháp không liên hệ gì tới xã hội. Phật cấm làm mai mối trong hôn nhân của người đời.

- 2 điều bất định là ngoại lệ. Đó là chỗ có thể hành dâm và  chỗ có thể không hành dâm.  Điều thứ nhất, đức phật cấm học giới này tại chùa Kỳ Viên, do nàng Visakha thấy tỳ khưu Udayi ngồi nơi khuất mắt với bốn người nữ. Điều thứ hai vị tỳ kheo ngồi chỗ khuất tai hai người phụ nữ, nếu có người đáng tin lời được đến cáo vi phạm 1 trong hai tội tăng tàn, hoặc ưng đối trị nếu tỳ khưu nhận phạm tội nào cho luật sư xử theo tội ấy, nếu họ cáo ngay điều học nào cho luật sư phạt ngay tội ấy.

- 30 điều ưng xã đối trị là một vị tỳ kheo không được phép giữ tiền, mà nếu giữ tiền thì phạm giới ưng xã đối trị. Muốn sám hối giới này thì phải xả tiền cho người khác giữ. (Nếu gặp người không đàng hoàng họ xài tiền này thì mất). Ưng xả đối trị thì nếu phạm giới, xả xong rồi sám hối. 30 điều học này xin quý vị xem trong luật tạng Pali của Hoà thượng Hộ Tông.

- 92 ưng đối trị nói lên những giới nhỏ mà vị tỳ kheo phải giữ: ví dụ tỳ kheo không được đốt lửa lên, cho nên tỳ kheo không được nấu nướng, không cắt cây cảnh, nhổ cỏ. Những giới này nhằm tô điểm giới hạnh của tỳ kheo. Nếu nhổ cây cỏ là phải sám hối. 

- 4 giới ưng phát lồ, liên hệ tới giới của những tỳ kheo ni.

-75 điều ưng học pháp, chia làm 4 phần, trong đó có 26 điều mặc y : ví dụ như mặc y nội từ mắc cá phải đo lên 4 ngón tay, y vai trái phải ngắn trên y nội 4 ngón tay. Y phải mặc trang nghiêm, không được luộm thuộm. Cụ thể là: Vị tỳ kheo nên mặc y nội vòng quanh trước sau đều đặn (phần trên che kín lỗ rún, phần dưới phủ đầu gối 8 lóng tay, nên mặc y vai trái vòng quanh trước sau đều đặn(phần trên trùm kín cổ hoặc chừa vai phải, phần dưới phủ đầu gối 4 lóng tay), nên trùm y kín thân mình khi đi vào trong xóm làng…nên thu thúc tay chân đàng hoàng khi đi vào trong xóm làng, nên thu thúc tay chân đàng hoàng khi ngồi trong nhà, khi đi vào trong xóm làng mắt nên nhìn xuống, khi ngồi trong nhà mắt nên nhìn xuống, không nên dỡy khi đi vào trong xóm làng, không nên dỡ y khi ngồi trong nhà. 

Đó là những giới quy định về việc mặc y của tỳ kheo.

Còn những giới khác nữa như: không nên cười lớn tiếng khi đi vào trong xóm làng, không nên cười lớn tíếng khi ngồi trong nhà, nói nhỏ nhẹ khi đi vào xóm làng hay khi ngồi trong nhà, khi đi vào trong xóm làng thân không nên lắc lư (đi nghiêm chỉnh)…

30 điều thọ nhận: thọ nhận vật thực một cách cung kính, chỉ nhìn trong bát khi thọ nhận vật thực, nên thọ nhận vật thực canh vừa với cơm, nên thọ nhận vật thực chỉ vừa miệng bát, không nên nhìn bát người khác với ý chê trách, không nên dùng miếng cơm quá lớn, nên vắt miếng cơm tròn, khi miếng cơm chưa đến miệng thì không nên há miệng, khi đang dùng vật thực không nên bỏ trọn các ngón tay vào miệng, không nên nói chuyện, lúc vật thực còn trong miệng, không nên ném vật thực vào trong miệng, không nên cắn vắt cơm từng miếng, dùng vật thực không nên độn cơm bên má như con khỉ, dùng vật thực không nên búng rảy ngón tay, dùng vật thực không nên để rơi rải rác, dùng vật thực không nên lè lưỡi ra khỏi miệng, dùng vật thực không nên có tiếng chắp miệng nghe rột rột.

Ngoài ra, 16 điều của pháp sư: tỳ kheo không nên thuyết pháp cho người không bệnh cầm dao trong tay, không nên thuyết pháp cho người không bệnh cầm khí giới trong tay, không nên thuyết pháp cho người không bệnh mang guốc, không nên thuyết pháp cho người không bệnh mang giày da, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi trên xe, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi hay nằm trên giường, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi khoanh tay choàng 2 đầu gối, không nên thuyết pháp cho người không bệnh đầu quấn (bịt) khăn, không nên thuyết pháp cho người không bệnh đầu trùm khăn. Nếu vị tỳ kheo ngồi dưới nền đất, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi trên chiếu, nệm, ngồi chỗ thấp, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi chỗ cao, nếu đứng, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi, đang đi đằng sau không nên thuyết pháp cho người đi đằng trước, đang đi bên lề đường không nên thuyết pháp đến người đi giữa đường.

Vị tỳ kheo không có bệnh, không nên đứng tiểu tiện, đại tiện, không có bệnh không nên tiểu tiện, đại tiện hoặc khạc nhổ nước miếng trên cỏ cây xanh hoặc trong nước”.

-3 điều linh tinh khác

-7 điều Diệt chánh

Đó là tóm lược 227 điều giới mà Tỳ kheo phải thực hành theo. Đời sống của người xuất gia được Đức Phật dạy rất kỹ lưỡng.

Trong 227 giới, phần tinh túy nằm ở ngũ giới, các giới còn lại là để nói lên phẩm hạnh của tỳ kheo, tư cách đạo đức trong sáng.  

-II/ Thu thúc thanh tịnh giới không chỉ ở tỳ kheo mà còn ở sa di, tu nữ nữa. Nó nằm ở sắc, hương, vị, xúc, pháp. Người xuất gia phải thu thúc lục căn vì phiền não sanh ra từ đây, phức tạp, rối rắm cuộc đời sanh ra từ đây. Ai biết thu thúc lục căn thì giữ giới tốt. Pháp thu thúc lục căn là pháp rất hay. Khi mắt thấy cảnh sắc, tai nghe âm thanh,mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý phát sanh phiền não hay vui thích.

Đang ngồi nghe thuyết pháp, quý vị nghe mùi xào nấu bắt đầu tâm tác ý khó chịu. Ăn những món không thích hợp khẩu vị, tâm không thích nên lẩm bẩm chê bai. Lưỡi nếm khẩu vị không thích thì tâm nổi sân, còn nếu thích thì nổi tâm tham. Sân tham nổi lên không hay biết là người  si mê …từ đó có những hành động hay phiền não phát sanh.

Trong kinh kể rằng, ngài Xá Lợi Phất có một đệ tử sa di, có thần thông nên hay đi chơi. Ngài Xá Lợi Phất nói với vị sa di rằng: con có thần thông mà bay đi hoài là ăn cơm với tro đó. Một hôm, vị sa di bay đi chơi, chợt nghe tiếng hát của cô thôn nữ dưới làng, bèn hạ thần thông đi làm quen với cô gái. Sau đó vị sa di bỏ tu về sống chung với cô thôn nữ. Nhà thôn nữ làm nghề đốn tre. Một hôm người vợ đem cơm trễ, chàng cầm cái rựa múa (giận dõi) làm sao vô ý làm đui mắt người vợ. Sau đó, cô ấy còn một con mắt. Do vậy mỗi khi cô nấu cơm thổi lửa làm bụi tro rớt trong cơm. Một hôm vị sa di nhìn cơm có lẫn cục than, giật mình khóc, nhớ lời thầy dạy: coi chừng ăn cơm với tro!. Nhớ lại những lầm lỗi do không thu thúc lục căn, do si mê tiếng hát, sắc đẹp nên sa di đã rời xa thầy, bỏ luôn nếp sống tu hành. Sa di rớt nước mắt khóc vì hối hận. Người mẹ vợ thấy vậy tưởng vị sa di khóc vì hối hận do đã làm cho vợ đui mắt. Nhưng sau đó, sa di thú thiệt với bà mẹ vợ là nhớ lời thầy dạy năm xưa mà khóc thôi!. Rồi sa di từ biệt gia đình bên vợ, tìm thầy tu lại. Sau đó vị sa di tu hành đắc pháp. 

Pháp thu thúc lục căn rất quan trọng. Nếu không thu thúc lục căn thì giới hạnh của người tu khôngtốt.

Tỳ kheo giữ gìn giới thu thúc lục căn thanh tịnh là do nhờ có chánh niệm đầy đủ (satisādhana).

III/ Chánh mạng thanh tịnh giới : có 26 điều tà mạng mà người xuất gia phải biết để giữ giới. Tà mạng là: ví dụ Phật tử cúng dường trái cây, mình lấy cho người này một trái, người kia một trái…gọi là phát lộc, nhưng mình cho mà mình có ý đồ lấy lộc của người này cho người kia, cho để lấy lòng người ta để họ sẽ cúng dường mình nhiều hơn. Đó là tà mạng. Cho vật dụng gì cũng muốn người ta nhớ nghĩ tới mình. Ý nghĩ đó là tà mạng. Có 26 điều tà mạng quý vị xem trong luật xuất gia của Hoà thượng Hộ Tông.

Tỳ kheo từ bỏ mọi cách sống tà mạng, như làm ra vẽ đạo đức, lời nói ngon ngọt để lừa gạt,... chỉ vì lòng tham muốn thấp hèn để nuôi mạng.

Tỳ kheo từ bỏ mọi cách sống tà mạng, sống bằng cách chánh mạng trong sạch, do nhờ sự tinh tấn đầy đủ (vīriyasādhana).Tỳ kheo có sự tinh tấn đầy đủ, có sự tri túc trong bốn thứ vật dụng, không sanh tâm tham muốn thấp hèn, không hợp với giới luật của Ðức Phật đã ban hành.

Tỳ kheo có sự tinh tấn đi tìm kiếm bốn thứ vật dụng:

- Y phục: lượm vải dơ may mặc.
- Vật thực: đi khất thực từng nhà một để nuôi mạng.
- Chỗ ở: cội cây, hang động để hành đạo. 
- Thuốc trị bệnh: dùng nước tiểu bò con, rễ cây làm thuốc, một cách hợp với giới luật của Ðức Phật đã ban hành.

Như vậy, Tỳ kheo có giới nuôi mạng chân chánh thanh tịnh là do nhờ sự từ bỏ mọi cách sống tà mạng, sống bằng cách chánh mạng trong sạch.

IV/  Quán tưởng thanh tịnh giới. Trong phần này có 4 pháp quán tưởng : y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh. Vị xuất gia tỳ kheo phải quán tưởng về 4 vật dụng này, là dùng 4 vật dụng này giống như là kẻ trộm, dùng như kẻ mắc nợ…

Dùng như kẻ trộm là vị tỳ kheo không có đầy đủ giới của tỳ kheo mà lại thọ dụng 4 vật dụng

Dùng như kẻ mắc nợ là ám chỉ mình thọ dụng thì phải quán tưởng, không quán tưởng là mình mắc nợ.

Dùng như bậc thánh hữu học ( anahàm) , dùng như bậc thánh …( alahán) thì mới xứng đáng thọ dụng.

Cách quán tưởng: là quán tưởng khi vật dụng còn nguyên, quán tưởng sau khi dùng xong. Vị tỳ kheo đang lúc dùng cũng quán tưởng để tránh cho tâm không khởi ý tham sân.

Mỗi khi thọ nhận thứ vật dụng nào, Tỳ kheo phải nên có trí tuệ sáng suốt suy xét, quán tưởng thứ vật dụng ấy để hiểu rõ sự lợi ích của chúng, cốt để diệt tham ái, diệt phiền não phát sinh khi thọ dụng. Chẳng hạn như quán tưởng 4 thứ vật dụng : y phục, vật thực, chổ ở, thuốc men là tứ đại đáng nhờm gớm khi tiếp xúc với sắc thân uế trược này rồi. Khi đang thọ nhận 4 vật dụng, vị tỳkheo nên chơn chánh quán tưởng rồi mới mặc y phục, quán tưởng mặc y phục chỉ để ngăn ngừa sự lạnh, ngăn ngừa sự nóng, ngăn ngừa sự tiếp xúc ruồi, muỗi, gió, nắng, rắn rít,... Và cũng chỉ để che kín phần đáng hổ thẹn trong thân thể mà thôi, quán tưởng rồi mới dùng vật thực không phải để vui chơi như trẻ con, cũng không phải để tăng cường sức mạnh như người lực sĩ, cũng không phải để làm đẹp thân như đàn bà, cũng không phải để bồi dưỡng thân thể cho xinh đẹp như kỹ nữ mà chỉ để nuôi dưỡng duy trì sắc thân, để làm giảm đi sự khổ thân, chỉ để thực hành phạm hạnh cao thượng mà thôi.

Khi thọ nhận chỗ ở, thuốc trị bệnh cũng phải quán tưởng: chỗ ở chỉ để ngăn ngừa sự lạnh, ngăn ngừa sự nóng, ngăn ngừa sự tiếp xúc ruồi, muỗi, gió, nắng, rắn rít,... Và cũng chỉ để tránh sự tai hại do thời tiết, được an lạc nơi thanh vắng, để hành phạm hạnh cao thượng, dùng thuốc trị bệnh để bảo vệ sinh mạng, để điều trị khổ bệnh đã và đang phát sinh, để không khổ do bệnh ấy nữa.

Ở chùa, giờ công phu buổi sáng thường tụng đọc4 bài quán tưởng này ( đọc 4 lần thành 16 bài quán tưởng ). Nghi lễ tụng niệm hằng ngày cũng có đọc 16 bài quán tưởng về thọ nhận 4 vật dụng. 

Như vậy, Tỳ kheo có quán tưởng trước, trong và sau khi dùng 4 thứ vật dụng, biết rõ sự lợi ích của 4 thứ vật dụng ấy, chỉ có vậy mà thôi. Thứ vật dụng ấy dù có tốt cũng không phát sinh tâm tham ái, hoặc dù có xấu cũng không phát sinh tâm sân nơi thứ vật dụng ấy.

Trong truyền thống văn hóa của người Khmer có nhiều phép luyện chú ngừa thuốc độc, ngừa bùa ngãi. Nếu họ biết dùng cách quán tưởng 4 vật dụng thì cũng có tính chất phòng hộ cao ( bùa không xâm nhập, chất độc không gây hại được.) 

Người xuất gia tỳ kheo phải xa lánh 14 ác pháp: không giận, cố giận, quên ơn, tự cao, ghen ghét, keo kiệt, khoe pháp, cứng đầu, tranh đua, tự kiêu, khinh người, si mê, dễ duôi. 

Người xuất gia tỳ kheo phải huân tập 9 đức hạnh : tri túc, hoan hỷ trong thọ nhận vật dụng, thích ở nơi thanh vắng, không cho phiền não sanh khởi, không dễ nuôi, ít bận việc, giữ tâm thanh thản.

Như vậy, người giữ giới sẽ có quả báu tốt đẹp, đó là: 

-Nhiều tài sản, 

-Danh thơm tiếng tốt đồn xa, 

-Dạn dĩ trước đám đông, 

-Tâm không bấn loạn, 

- Sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào nhàn cảnh.

Kết quả có nhiều lợi ích khi gieo duyên lành với chánh pháp

Chính vì vậy mà Ngài Đại đức Sīlava thuyết pháp dạy các đệ tử của Ngài đề cao giới: ‘’Giới là gốc của mọi thiện pháp, là nền tảng để mọi thiện pháp được phát triển, là nơi phát sinh mọi thiện pháp, dẫn đầu mọi thiện pháp. Vì vậy, các con nên giữ gìn giới của mình cho được trong sạch và trọn vẹn. Người thu thúc giới trong sạch thanh tịnh có thể ngăn cản được mọi hành động ác do thân, khẩu và ý, làm cho thiện tâm phát sinh hoan hỷ’’.

Bài pháp đến đây cũng vừa phải lẽ. Cầu nguyện tam bảo, chư thiên gia hộ cho quý vị tu hành tinh tấn và có nhiều thuận duyên trong cuộc sống.

Nam mô Phật Pháp Tăng tam bảo

 

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang