phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Hoằng Pháp

16 GIAI ĐOẠN TUỆ GIÁC: THIỀN “MINH – SÁT – TUỆ” ( Vipassanā ñāṇa)

Ngày đăng tin: 2016-01-21 14:25:07
(30/7)
Đề tài Thiền Minh – Sát – Tuệ / Thiền Tuệ (Vipassanā) do Đại đức, GS. TS. Thiện Minh thuyết giảng tại Tổ Đình Bửu Quang, Thủ Đức nhân Khóa Tu Thiền ngày 8 tháng 12 năm Ất Mùi 2015. Bài pháp được ghi lại bởi phật tử Quang Đức.
16 GIAI ĐOẠN TUỆ GIÁC:  THIỀN “MINH – SÁT – TUỆ” ( Vipassanā ñāṇa)

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsabuddhassa

Trước khi diễn giải về 16 Tuệ giác trong Thiền Minh – Sát – Tuệ, có một thuật ngữ quen thuộc mà quí vị hành giả ở đây ai cũng đã từng nghe qua. Đó là: THIỀN (Jhàna). Thiền nói chung được chia làm 2: THIỀN ĐỊNH (Samadhi) và THIỀN TUỆ (Vipassana).

Thiền Định (Samadhi) là sự tập trung 1 trong 40 đề mục thiền định. Ví dụ như niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm thí, niệm giới v.v.. Mục đích của Thiền định là có 4 cấp độ nhập định như Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, và Tứ Thiền, đó là thiền Sắc giới; Tiếp tục, hành giả tu tập thêm nữa để đạt được 4 thiền Vô sắc, đó là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Để có thể thành tựu những tính chất của Định, khi tu tập hành giả phải buông tâm không trú vào đâu cả. Hành giả chỉ việc nhắm mắt lại quan sát niệm đề mục cho đến khi đắc định. Trú xứ phải là ngôi nhà trống, rừng núi là tốt nhất cho việc nhập định.

 

Thiền Tuệ (Vipassanā) Đề mục của thiền tuệ là Thân thọ tâm pháp. Mục đích là sát trừ phiền não, chấm dứt sanh tử luân hồi. Tư thế ngồi phải kiết già lung thẳng. Trú xứ là ngôi nhà trống, hoặc nơi nào thuận lợi việc tu tập. Thiền tuệ dường như không quan trọng trú xứ, nơi nào thích hợp hành thiền thì vẫn tốt. Hành giả tu thiền tuệ nhằm phát huy trí tuệ thấy rõ, biết rõ sự sinh diệt của danh pháp, sắc pháp; thấy rõ, biết rõ 3 trạng thái chung: vô thường, khổ não, vô ngã của các danh pháp, sắc pháp, dẫn đến chứng ngộ chân lý 4 Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, chứng đắc 4 Thánh Quả và Niết Bàn, đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái, chấm dứt sanh tử luân hồi.

 

Thiền Định có thể dễ dàng được bắt gặp ở những phiên bản có nhiều điểm tương đồng hay phiên bản tương đương từ các tông phái khác nhưng Thiền Tuệ là phiên bản duy nhất chỉ có trong Phật giáo, là cốt tủy của Đạo Phật. Trong kinh tạng Pāḷi, Thiền Tuệ được thể hiện rõ ở 2 bài kinh Tứ Niệm Xứ trong Trung Bộ Kinh và Đại Niệm Xứ trong Trường Bộ .

Thiền Tuệ có 16 Tuệ, đó là:

1. Tuệ phân tách Danh Sắc (Nāma-rūpapariccheda ñāṇa)

2. Tuệ phân tách Nhân Quả (Paccayapariggaha ñāṇa),

3. Tuệ suy xét thấy Danh Sắc là vô thường, khổ não, vô ngã (Sammāsana ñāṇa),

4. Tuệ thấy sự Sanh – Diệt của Danh Sắc (Udayabbayānupassanā-ñāṇa),

5. Tuệ Diệt (Bhanga ñāṇa),

6. Tuệ Sợ (Bhaya ñāṇa),

7. Tuệ thấy Hiểm Nguy của Ngũ uẩn (Adinava ñāṇa)

8. Tuệ Chán nản (Nibbida ñāṇa)

9. Tuệ muốn Giải thoát (Muncitukamyata ñāṇa)

10. Tuệ Suy Tư (Paṭisaṅkhānupassanā-ñāṇa)

11. Tuệ Xả Hành (Saṅkhārupekkhā-ñāṇa)

12. Tuệ Thuận-Thứ (Anuloma-ñāṇa)

13. Tuệ Chuyển Tánh (Gotrabhū-ñāṇa) / ("Cắt dòng phàm"),

14. Đạo-Tuệ (Maggañāṇa)

15. Quả-Tuệ (Phala-ñāṇa)

16. Tuệ Kiểm-soát Phiền-não và Tuệ Niết-Bàn (Paccavekkhana ñāṇa)

 

16 Tuệ Thiền Minh Sát được chúng tôi tham khảo từ sách biên dịch trước năm 1975 của Thiền sư, Hòa thượng Hộ Pháp. Hòa thượng dịch lại tác phẩm này từ Tiếng Thái. Sở dĩ chúng tôi chọn nguồn tài liệu tham khảo này vì nhận thấy đây là tác phẩm có giá trị tin cậy về tiến trình trải nghiệm.

 

Hòa thượng Hộ Pháp, thế danh là Trương Văn Huấn. Khi còn bé Ngài học chữ nho, sau đó học sang chữ Pháp. Ngài từng sang Pháp học ngành sư phạm tại Đại học Toulouse, và đồng thời tốt nghiệp Cử nhân Khoa Học. Rồi Ngài trở về nước và tham gia giảng dạy tại nhiều trường học ở Sài Gòn, đặc biệt Ngài được bổ nhiệm làm giám học kiêm Giáo sư Khoa Học trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký từ năm 1946 đến năm 1956. Năm 1957, Ngài được cử làm Tổng Thanh Tra Trung Học toàn quốc và dạy học tại trường Cao Đẳng và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn cho đến năm 1965.

 

Ngoài việc là một giáo sư có nhiều cống hiến trong lãnh vực giáo dục, Ngài còn dành nhiều thời gian để tìm hiểu các Tôn phái Phật giáo và có nhiều đóng góp tích cực trong các hoạt động Phật sự. Đặc biệt, Ngài là một trong những cư sĩ sáng lập viên của Tổng Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam, thành lập năm 1957.

 

Hòa thượng Hộ Pháp là Thầy của Tu nữ Liên Nhu. Còn chúng tôi, dù không có nhân duyên cận kề tu học với Ngài (thời gian chúng tôi xuất gia, Ngài đã định cư ở Hoa Kỳ), chúng tôi cũng có một số giao cảm tương tác với Ngài như lần tới thăm gia đình bác sỹ Phước trong thời gian tu học ở London, chúng tôi được gia đình bố trí nghỉ qua đêm trong thư viện mini của gia đình. Ở đây, nhờ thói quen ham học hỏi tìm hiểu mà chúng tôi phát hiện ra một bản photo tài liệu viết tay của Ngài Hộ Pháp. Chúng tôi vô cùng hoan hỷ và có photo lại để đem về Việt Nam. Tương tác thứ hai là thời gian chúng tôi mới về tiếp quản chùa Bửu Quang. Chúng tôi được cơ duyên trong Tịnh thất Mít Nài của Hoà thượng Bửu Hạnh. Đại đức Bửu Nam dọn dẹp lại tịnh thất, có cung cấp cho chúng tôi khoảng15 bài giảng viết tay của Hòa thượng Hộ Pháp. Càng đọc các bài viết của Ngài, chúng tôi càng quí trọng tâm đức và trí tuệ của Ngài – một nhà trí thức Phật giáo.

 

Với lối hành văn ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ cảm thụ. Lối viết của Ngài thật khác biệt và không giống với các cách hành văn na ná mà chúng tôi vẫn quen đọc thời đó. Đây chính là lý do thúc đẩy chúng tôi biên soạn và ấn hành nên tác phẩm: “Thiền sư Hộ Pháp – Một Thời Để Nhớ”.

 

Dẫu chúng tôi vẫn chưa tìm thấy tài liệu gốc miêu tả về 16 Tuệ trong Thiền Minh Sát Tuệ nhưng diễn biến của tiến trình Tâm này rất phù hợp với trải nghiệm của các thiền sư, hành giả. Do vậy, hôm nay chúng tôi mạnh dạn giảng giải sâu về 16 Tuệ này để quí vị hành giả thực hành và tự mình chiêm nghiệm.

 

1. Tuệ phân tách Danh Sắc (Nāma-rūpapariccheda ñāṇa)

Bước đầu của hành thiền là phân biệt danh – sắc. Danh là Tâm (tinh thần), Sắc là mặt, mũi, tai, mắt … (vật chất). Hành giả bắt đầu thực hành với sự nhận biết: thân ta có 2 phần danh và sắc, ngoài ra không có gì khác, không có cái ta của ta.

 2. Tuệ phân tách Nhân Quả (Paccayapariggaha ñāṇa)

Nhân là hạt giống, Quả là trái. Gieo nhân nào thì ắt gặt quả ấy. Hành giả hành thiền để tâm vắng lặng, tâm nhận rõ được qui luật có quả chắc chắn phải có nhân. Cái gì sanh ra trước là nhân, sanh ra sau là quả. Tin nhân – quả để biết gieo những hạt giống thiện.

 3. Tuệ suy xét thấy Danh Sắc là vô thường, khổ, vô ngã (Sammāsana ñāṇa)

Hành thiền để hành giả tự suy xét mà thấy một cách thô sơ về vô thường (aniccā), khổ (dukkha), vô ngã (anattā), 3 pháp ấn xoay chuyển không ngừng trong thế gian. Nhận biết được rằng không có gì trường tồn vĩnh cửu. Mọi thứ đều vô thường, nay còn danh sắc này nhưng mai có thể hoàn toàn thay đổi hay biến mất do thiên tai, hỏa hoạn, bệnh tật, tuổi tác, nghiệp lực … 

Ví như một công ty sản xuất đũa ở gần chùa ngày hôm qua đã hoàn toàn bị thiêu rụi bởi hỏa hoạn. Tài sản đang sở hữu, tưởng như là vững chắc bỗng chốc hoàn toàn tiêu tán, mọi thứ là vô thường, không gì là mãi mãi, không gì là của ta. 

4. Tuệ thấy sự Sanh – Diệt của Danh Sắc (Udayabbayānupassanā-ñāṇa) 

Trong thời gian hành thiền, ngoài việc niệm hơi thở, hành giả còn bắt gặp nhiều cảnh vật (hỷ lạc khởi sanh). Có người thấy tiên, phật; có người thấy chùa chiền cung điện; có người thấy sông núi cảnh đẹp; có người thấy ánh sáng hào quang…những hỷ lạc này khiến hành giả muốn níu giữ hoài cũng như một người đang nằm mộng đẹp, không muốn thức dậy. 

Tuy vậy quí hành giả cần nhớ rằng tất cả cảnh sắc đều do tâm sanh, là giả cảnh. Tâm sanh phải để cho tâm diệt. Nếu không để tâm diệt, hành giả được ví như người lạc vào mê cung, mải mê đeo đuổi với những giả cảnh để rồi quên mất mục đích chính của mình. Hành giả hãy quán chiếu rằng những giả cảnh đó chỉ là vô thường, khổ, vô ngã để không đánh mất chánh niệm mà rơi vào tà niệm. 

“Ai sống một trăm năm

Không thấy Pháp Sanh - Diệt

Không bằng sống một ngày

Thấy được Pháp Sanh – Diệt” Kinh Pháp Cú

 5. Tuệ Diệt (Bhanga ñāṇa) 

Trải nghiệm được Tuệ 4, hành giả sẽ trải nghiệm đến tiến trình tâm tiếp theo là Tuệ Diệt. Khi những giả cảnh do tâm sanh (chướng ngại) không còn làm vướng bận đến các hành giả, không khiến cho các hành giả cảm nhận yêu ghét hay sợ hãi. Lúc này, bất kỳ cái gì hiện ra cũng mặc, hành giả nhìn chúng rồi để chúng tự ra đi, tái lập sự tập trung, giữ tâm chánh niệm. Tuệ diệt là bước đầu tiên của sự đoạn diệt phiền não. 

6. Tuệ Sợ (Bhaya ñāṇa) 

Vì sự hủy diệt đã được hành giả chiêm nghiệm trong tuệ thứ 5, cảm nghĩ phát sanh cho rằng danh sắc là mong manh luôn luôn sinh và diệt mau chóng khiến hành giả sợ hãi trong lòng. Hành giả không còn nhận thấy được hạnh phúc trong danh sắc, nhờ vậy lòng tham ái bị ngưng lại. Tuệ này là kẻ thù của tham ái, tuy vậy ở cấp độ này hành giả vẫn chưa hoàn toàn đoạn tuyệt được với lòng tham ái. 

7. Tuệ thấy Hiểm Nguy của Ngũ uẩn (Adinava ñāṇa) 

Ngũ uẩn hay danh sắc cũng đều cùng một nghĩa bởi ngũ uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; trong đó sắc là thân còn thọ, tưởng, hành, thức là danh/tâm. Hành giả nhận ra có danh sắc (ngũ uẩn) là có những hiểm nguy (tai ương, bệnh tật) có thể phát sanh. 

Nhận thức được mối hiểm nguy của ngũ uẩn, hành giả đồng thời cũng nhận ra các lợi ích từ đây. Theo ghi chép từ kinh điển, hành giả khi hành đến tuệ này thì có thể diệt được 59 hay 96 thứ bệnh có thể phát sanh.     

Ví như hành giả biết mình bị bệnh tim, khi hành giả hành thiền nhận thấy được sự hiểm nguy của bệnh đang tới (bệnh tái phát trong ngữ cảnh tổn thương tinh thần cụ thể nào đó), hành giả thực hành quán chiếu hơi thở, để tâm vắng lặng thì những cảm xúc dễ khiến bệnh tăng lên cao trào sẽ nhẹ nhàng mà tiêu tan. 

8. Tuệ Chán nản (Nibbida ñāṇa) 

Dẫu ở Tuệ 7, hành giả có thể cảm nhận được sự hiểm nguy của ngũ uẩn mà diệt các cảm xúc gây mầm họa nhưng cũng chính ở giai đoạn này hành giả nhận thấy được sự tàn úa sinh học tự nhiên của danh sắc. Có danh sắc ắt phải có sự SANH – HOẠI tự nhiên dẫn đến tâm lý chán nản, chán ghét. Sự chán ghét này không xuất phát từ sân mà xuất phát từ trí tuệ. Hành giả hiểu rõ được qui luật của tái sanh danh sắc và không còn ham muốn tái sanh. 

“Tất cả mọi vật hiện hữu đều vô thường.

Với trí tuệ, chúng ta nhận thức được điều này

Tinh tấn hành giả thoát khổ

Đây là con đường giải thoát” Kinh Pháp Cú 

9. Tuệ muốn Giải thoát (Muncitukamyata ñāṇa) 

Lúc này tâm tính hành giả trở nên gắt gỏng, khó chịu, khô khan, thậm chí còn có tâm lý bi quan với tất cả. Cảm giác thờ ơ, không còn tha thiết với vật chất, công danh, gia đình, sự nghiệp. Một lòng hướng về giải thoát/niết bàn. Ham muốn được giải thoát dẫn đến sự năng nỗ tu tập hơn để đạt được. 

10. Tuệ Suy Tư (Paṭisaṅkhānupassanā-ñāṇa) 

Khi hành giả phát sanh tuệ muốn giải thoát khỏi danh và sắc; tuệ giác sẽ suy tư, trăn trở nhiều hơn với 3 pháp ấn vô thường, khổ, vô ngã. Càng suy tư, hành giả lại càng thấy rõ các đặc tính sanh diệt, thấy rằng chúng là trống rỗng, là không thể sở hữu, không thể kiểm soát.  

11. Tuệ Xả Hành (Saṅkhārupekkhā-ñāṇa) 

Qua tầng Tuệ suy tư, hành giả lúc này thấu triệt rõ ràng hơn về 3 pháp ấn. Hành giả sẽ có thêm xả ly với những suy tư đạt được. Thấy, suy xét, xả và tiếp tục hành thiền để chứng ngộ giải thoát. 

12. Tuệ Thuận-Thứ (Anuloma-ñāṇa)

Từ những kết quả tu tập được từ những tuệ trước đó, tuệ thuận thứ khiến hành giả năng nổ hơn, có nhiều đức tin hơn, chánh niệm hơn, và có trí tuệ hoàn hảo hơn.  

Tuệ thuận–thứ là tuệ cuối cùng ở trong cõi dục giới/thế tục (có danh sắc làm đối tượng). Từ sau tuệ này thì Niết bàn sẽ thành đối tượng. 

13. Tuệ Chuyển Tánh (Gotrabhū-ñāṇa) 

Trí tuệ của tâm trong tuệ này chuyển đổi hành giả từ kẻ phàm phu (puttujjana) sang bậc thánh cao quí (ariyapuggala). Tâm đầu tiên trong vòng luân hồi có Niết Bàn là đối tượng. Dẫu đã có Niết Bàn là đối tượng, tuệ này vẫn chưa đoạn tuyệt hoàn toàn với phiền não. 

14. Đạo-Tuệ (Maggañāṇa) 

Trí tuệ xuất hiện trong tâm gọi là tuệ đạo. Đây là tâm đầu tiên của 4 tâm đạo dẫn đến Tu Đà Hườn (Sotāpanna).Tâm đạo hoạt động chỉ trong một sát na (citta-bhanda), nhưng nó giảm bớt sự tái sinh trong tương lai đến 7 kiếp. 

Khi tâm đạo xuất hiện lần đầu tiên, gọi là tâm đạo Tu đà hườn, xuất hiện thêm 3 lần nữa sẽ chứng đắc những Đạo cao hơn:

Ðạo Tu Ðà Hườn (Sotapatti-magga)

Ðạo Tư Ðà Hàm (Sakadagami-magga)

Ðạo A Na Hàm (Anagami-magga)

Ðạo A La Hán (Arahatta-magga)

Ðối với hành giả lần đầu tiên trở thành bậc thánh cao quý. Vị này không còn có thể tái sinh trong 4 đường ác đạo. 

15. Quả-Tuệ (Phala-ñāṇa)

 

Trong tuệ này, tâm quả phát sinh, và có một cảm giác an lạc rất sâu lắng. Kết quả này là định luật của chân lý hoặc nhân quả (dhamma niyama) - nghĩa là tâm quả luôn luôn đi theo tâm đạo. 

 

Tâm quả là quả siêu thế từ tâm đạo. Trong tuệ quả hành giả trở thành bậc thánh lần thứ 2, vị này bây giờ được gọi là bậc thánh Tu Ðà Hườn (Sotapatti-phala-pugala) và chắc chắn sẽ giác ngộ không quá 7 lần tái sinh nữa.

 

Hành tập lại cho đắc 15 tuệ lần 2, hành giả chứng đắc quả Tư Ðà Hàm, lần 3 A Na Hàm, và lần 4 A La Hán.

 

16. Tuệ Kiểm-soát Phiền-não và Tuệ Niết-Bàn (Paccavekkhana ñāṇa)

 

Chứng đắc được tuệ này, hành giả chứng đạt Niết Bàn. Niết bàn là đối tượng ở trong khoảnh khắc hiện tại.

 

Kết luận: 16 Tuệ trong thiền tuệ là con đường đi đến sự giải thoát, tiến trình tâm này cũng được ví như “con đường dẫn đến thanh tịnh” -  Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga). Thanh Tịnh Đạo là tác phẩm khá hoàn hảo của Trưởng lão Phật Âm- Buddhaghosa, được xem như Bách Khoa Toàn Thư của Phật giáo với 3 phần Giới – Định – Tuệ. 16 Tuệ Minh Sát hay 7 Thanh Tịnh Đạo là con đường chánh pháp duy nhất đi đến Niết Bàn.

 

NAM MÔ PHẬT PHÁP TĂNG TAM BẢO

 

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang