phatgiaonguyenthuy.com
vesak2017

 Hoằng Pháp

TƯỞNG NIỆM HÒA THƯỢNG THIỆN LUẬT

Ngày đăng tin: 2014-07-03 20:05:16
(5/1)
Giảng sư Đại đức Thiện Minh
TƯỞNG NIỆM HÒA THƯỢNG THIỆN LUẬT

Kính thưa toàn thể đại chúng, hôm nay là ngày sám hối lệ, quý cô tu nữ và toàn thể phật tử sau khi sám hối thì tụng kinh, nghe thuyết pháp là thông lệ hàng tháng.

Thông thường trong những dịp sám hối chúng tôi thuyết một bài pháp nhưng hôm nay sẽ giới thiệu với quý vị tấm gương đạo đức của một nhà sư mà oai đức và đạo lực của Ngài khiến cho chúng ta vô cùng kính ngưỡng, đó là Hòa Thượng Thiện Luật.

 Ngài Hòa Thượng Thiện Luật là một cao tăng , là nhà sư  đầu tiên của Phật giáo Nguyên thủy. Ngài tịch năm 1969 nên các thế hệ tăng ni sau này ít người biết Hòa thượng. Chúng tôi cũng không biết nhiều về Ngài. Chỉ muốn kể về ngài để ôn lại tấm gương sáng của một vị cao tăng xuất gia có công lớn là đem Phật giáo Nguyên thủy về Việt Nam. Về tiểu sử của Hòa Thượng Thiện Luật , có rất nhiều tài liệu ghi chép lại, những văn thư, lưu trữ trong Gíao hội Phật giáo Việt Nam, các trang web, các tài liệu trong nước hoặc hải ngoại…cũng có nhiều sự khác nhau trong khi so sánh , đối chiếu… đôi chỗ sai lệch…khi viết về Hòa thượng Thiện Luật. Với mục đích đóng góp cho các thế hệ sau biết rõ hơn về Phật giáo Nguyên Thủy nên chúng tôi chia sẻ những gì mình biết được về Hòa Thượng Thiện Luật. Thực tế cho thấy chúng ta  không biết sâu sắc về Phật Gíao Nguyên Thủy vì ta đến với Phật giáo Nguyên Thủy muộn màng quá, cũng có khi có duyên với Phật giáo nhưng lại đi vào hệ phái Bắc Tông nên cũng không thể biết nhiều về Ngài hoặc những ai sanh sau năm 1969 cũng sẽ không biết về ngài.  Sư muốn kể về Hòa thượng Thiện Luật, ôn lại cuộc đời của một vị cao tăng đặc biệt của Phật giáo Nguyên thủy, là người làm nhiều hơn nói, không muốn ai biết đến ngài, không muốn ai nhắc lại. Do đức khiêm nhường đó nên ít ai biết về ngài. Hòa thượng Thiện Luật là vị cao tăng xuất gia đầu tiên của Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam , là vị sư  Phật giáo Nam tông kinh đầu tiên có mặt tại Tổ đình Bửu Quang- cũng là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam.

 Quê hương của Hòa thượng Thiện Luật ở Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp. Ngài sinh năm 1898 Vùng đất Đồng Tháp là vùng địa linh nhân kiệt, có nhiều vị sư ra đời xuất gia từ đây rất nổi tiếng. Đồng Tháp cũng là vùng đất đặc biệt, ngay cả cha của Bác Hồ sanh ở Nghệ An, vào Nam mất, an táng tại Cao Lãnh và hiện nay đền thờ, mộ chôn ông ở Sa Đéc. Hòa thượng Bửu Chơn là vị cao tăng thứ hai của Phật giaó Nguyên thủy cũng quê ở Sa Đéc.

Vùng đất Sa Đéc có dòng sông Cửu long, nước chảy hiền hòa, phù sa phong phú, phong cảnh đẹp, vì có 9 cửa nên gọi là sông Cửu Long, thượng nguồn của nó bắt đầu từ Tây tạng, Thái Lan, Lào, Campuchia v.v…Dòng sông này, nhà báo Phạm Khắc trong Ký sự Mêkong đặt cho cái tên là dòng sông Phật giáo. Các quốc gia có dòng sông này đều có phật giáo thịnh hành. Chính vì lý do đó, Miền tây có các vị cao tăng nổi tiếng như Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thiện Bửu Chơn, Hòa thượng Thanh Từ, Hòa thượng Trí Tịnh v.v….

Hòa Thượng Thiện Luật sanh ra trong gia đình đạo đức, nề nếp. Cha tên  Ngô Văn Nghi, mẹ không thấy ghi trong tài liệu lịch sử. Trong thư viện Phật giáo Nguyên Thủy, quyển “Hội viên của Giáo hội Tăng gìa Nguyên Thủy Việt Nam” không thấy ghi tên mẹ của ngài. Ông Ngô Văn Nghi là người gốc Hoa, đa nghề,  làu thông nho học, tinh tường địa lý, phong thủy,  tử vi, là thầy thuốc đông y giỏi, ngay cả các món cầm, kỳ, thi, họa ông cũng rất xuất sắc. Hòa thượng Thiện Luật có chịu ảnh hưởng bởi sự đa tài của cha. Ngô  Bảo Hộ là tên do cha đặt cho ngài. Cuộc sống của Ngô Bảo Hộ ( tức Hòa thượng Thiện Luật sau này)  ở Việt Nam năm 1918, khi đó  Bảo Hộ mới 20 tuổi, vì hoàn cảnh cuộc sống nên theo cha bỏ quê hương Sa Đéc sang Campuchia làm ăn. Cho tới năm 26 tuổi, Bảo Hộ lập gia đình với bà Lưu Kim Phùng sanh được 4 người con gồm 3 gái, 1 trai. Người con trai duy nhất của Bảo Hộ  chính là Hòa Thượng Hộ Gíac sau này. Ngài Hộ Gíac cũng mới mất cách đây 100 ngày.  Ngô Bảo Hộ sống cùng vợ được 8 năm thì bà mất sớm, để lại 4 con nhỏ bơ vơ. Lúc đó Bảo Hộ sụp đổ tinh thần trước cái chết của vợ, lo lắng với trách nhiệm nặng nề đối với con cái. Cuộc sống của ông lúc bấy giờ rất cực khổ. Nổi đau mất vợ lúc con còn quá nhỏ đã làm cho ông dường như không gượng nổi . Ông than! Tại sao thượng đế làm nên điều này cho ta đau khổ? Một năm sau người con gái thứ nhì mất. Nổi đau vợ chết chưa nguôi thì lại đến mất con . Đó là  nghịch duyên làm cho Ngô Bảo Hộ quay về tìm đến đời sống tâm linh. Trước cái chết của vợ và con gái, ông ngán ngẫm cuộc đời thế tục. Từ đó Ngô Bảo Hộ đi tìm đời sống tâm linh.

 Qúy vị biết rằng người xuất gia, phật tử tìm đến chuà thường là người có biến cố lớn trong cuộc đời. Đối với Ngô Bảo Hộ, cuộc sống triền miên trong đau khổ bèn đi tìm chân lý thoát khổ. Ngô Bảo Hộ đọc sách tôn giáo, tạp chí Phật giáo để tìm tòi, nghiên cứu về đời sống tâm linh, về bản thể con người, về bản chất thế gian. Từ đó Ngô Bảo Hộ nghiên cứu các tôn giáo qua sách vở, tài liệu của đạo Tin Lành, Thiên chúa giáo, đạo Bà Hai, Hòa Hảo, đạo Hồi … Tình cờ Ngô Bảo Hộ đọc tạp chí “Ánh sáng phật pháp’’ là tiền  thân của tạp chí Phật giáo Nguyên thủy, qua đó hiểu Phật giáo Nguyên thủy, thấy nhiều nhà sư Campuchia đi khất thực ngoài đường ( trước kia dù sinh sống ở Campuchia là một đất nước Phật giáo nhưng Bảo Hộ không quan tâm đến điều này),  hiểu được Phật giáo Nguyên thủy hơn . Bài học đầu tiên về Phật giáo Nguyên thủy đối với Bảo Hộ là bài học đặt bát cúng dường cho các vị sư. Nhưng người sách tấn cho Ngô Bảo Hộ đi xuất gia theo Phật giáo Nguyên thủy chính là bác sĩ Lê Văn Giảng ( là Ngài Hộ Tông sau này) . Lúc bấy giờ , bác sĩ Lê Văn Giảng hiểu biết sâu sắc về giáo lý Phật giáo trước nhưng chưa có duyên xuất gia, ông cũng chính là sáng lập ra tạp chí Ánh sáng Phật pháp, là trưởng ban dịch thuật phật giáo Nguyên thủy đầu tiên. Bảo Hộ tìm đến bác sĩ Lê Văn Giảng để tìm hiểu Phật pháp. Mỗi lần gặp nhau, bác sĩ thuyết pháp giảng đạo, tìm hiểu hoàn cảnh rồi khuyên Bảo Hộ đi tu và hứa sẽ hộ pháp cho Bảo Hộ. Nhưng Bảo Hộ vẫn còn do dự lắm. Sau đó có cụ Nguyễn Văn Hiểu là một người giàu có ở Sài Gòn, có villa ở đường Bà Huyện Thanh Quan cũng là người quen biết với bác sĩ Gỉang và Ngô Bảo Hộ. Ngô Bảo Hộ một lần tình cờ  nghe cụ Nguyễn Văn Hiểu kể lại quyển sách viết bằng tiếng Pháp của một tác giả người Đức, sách này so sánh Phật giáo Nguyên thủy giống như núi Tu Di, dùng kinh điển Pali, lấy núi Tu Di so với những tôn giáo kia như cành lá chơi vơi mà Phật giáo Nguyên thủy là gốc rễ sâu dày. Lúc bấy giờ Bảo Hộ bừng ngộ bèn bỏ hết những tôn giáo khác, tìm đến bác sĩ Giảng để hỏi rỏ về Phật giáo Nguyên thủy. Ba người hẹn nhau rằng một  người tìm đất xây chùa, còn bác sĩ sẽ xuất gia và 3 người cùng góp công sức phát triển Phật giáo Nguyên thủy ở Việt Nam. Cụ Hiểu động viên Bảo Hộ, thúc đẩy Bảo Hộ đi tu. Cuối cùng, Bảo Hộ tâm quyết xuất gia dẫn theo người con trai út duy nhất đến thiền đường Thiền Lâm ở Campuchia tu tập. Trước đó cũng có một tháng thử thách, tính toán, sắp đặt chuyện gia dình. Như một từ bỏ lớn lao, tu để quên nổi khổ.  Bác sĩ Lê Văn Gỉang và ông Nguyễn Văn Hiểu từng nói với Ngô Bảo Hộ rằng : ‘’Ông mà đi tu thì vai trò của ông rất quan trọng, vì ông là người Việt Nam đầu tiên tu theo Phật giáo Nguyên thủy’’.  Đầu tiên vào năm 1934, Ngài Thiện Luật tu tại chùa Sarisako. Vị trụ trì chùa này đã nhận người con út của ngài Thiện Luật làm nghĩa tử ( ngài Hộ Gíac ). Sau này,  ông Nguyễn Văn Hiểu bán villa được một số tiền lớn, ông lấy một nửa tiền đó xây dựng Tổ đình Bửu Quang. Hòa Thượng Thiện Luật- trở về Việt Nam là người đầu tiên tiếp nhận Tổ đình này.

Hòa thuợng Thiện Luật là người Việt Nam đầu tiên mặc chiếc y xuất gia Phật giáo Nguyên Thủy năm 1934. Ba năm sau, năm 1937 ngài chính thức thọ giới tỳ kheo với Hòa Thượng Trưởng lão Uttamamuni Um-Su, Thầy Yết ma là Trưởng lão Som Dach Choun Nath (sau là vua Sãi Cao Miên) và Thầy Giáo thọ hướng dẫn Phật học là Ngài Hout-That (về sau là Phó Tăng thống, cuối cùng là vua Sãi, bị Pôn-Pốt sát hại năm 1975). những vị thầy này ban cho ngài pháp danh tỳ khưu Thiện Luật . Pháp danh của ngài gắn liền với cuộc đời tu hành của ngài. Ngài là đệ nhứt cao tăng, luôn luôn giữ giới hạnh. Ngài ở nơi nào, nơi đó đông tăng chúng.  Ở Campuchia, thời Ngài tu tại niêm phật đường Thiền Lâm cũng có rất đông người Việt theo tu tại đây.

Công cuộc hoằng pháp và định hướng Phật giáo Nguyên Thủy.

Cụ Nguyễn Văn Hiểu  đã xây dựng chùa Bửu Quang vào năm 1938 nhưng có điều không may là năm 1945 thời Pháp, chùa Bửu Quang sụp đổ hoàn toàn. Sau này mới xây lại vào năm 1949. Thời Hòa thượng Thiện Nghiêm trùng tu, chánh điện lợp tôn vào năm 2001. Sau chúng tôi xây lại mái ngói, bỏ giảng đường nối lại nên chánh điện rộng gấp đôi chánh điện chùa cũ, hiện nay có diện tích 12m x 22m.

Ngô Bảo Hộ xuất gia là một cú sốc đối với Bác sỉ Giảng vì bác sĩ muốn đi tu mà luôn bị gia đình ngăn cản. Năm 1940 bác sĩ Gỉang quyết định xuất gia liền bị bà vợ làm khó . Nhưng bác sĩ Gỉang nhất định muốn thoát tục nên kiên quyết xuất gia, sau này trở thành Hòa Thượng Hộ Tông. Có thể nói, Phật giáo Nguyên thủy phát triển như ngày hôm nay, khởi đầu công lao của Ngài Hộ Tông rất lớn. Hồi đó, khi Ngô Bảo Hộ xuất gia trở thành vị sư pháp danh là Thiện Luật, có tăng rồi, bác sĩ Gỉang và ông Hiểu nhanh chóng thỉnh tỳ khưu Thiện Luật về Việt Nam trụ tại Tổ đình Bửu Quang năm 1939. Như vậy, ngài Thiện Luật cũng là vị tăng đầu tiên ở tại Tổ đình Bửu Quang lịch sử này.  Năm 1940 cụ  Nguyễn Văn Hiểu thỉnh 30 vị tỳ kheo từ Nam Vang về Việt Nam tổ chức lễ kiết giới sima cho Tổ đình Bửu Quang, trong đó có ngài Chuonnat – Phó Vua Sãi và duy nhất có 2 vị sư Việt Nam là ngài Thiện Luật và ngài Huệ Nghiêm. Hồi đó,  30 vị tỳ kheo đi từ Nam vang qua Việt Nam tới  Tổ đình Bửu Quang phải đi bằng xe qua ngõ Châu Đốc- An Giang. Năm 1940 là năm đánh dấu Phật giáo Nguyên thủy du nhập vào Việt Nam.

Những mốc thời gian đáng nhớ:
- Năm 1938 xây Tổ đình Bửu Quang .

-Năm 1939  Tỳ Kheo Thiện Luật nhập hạ tại Tổ đình Bửu Quang.

-Năm 1940 Lễ kiết giới si ma đánh dấu Phật Giaó Nguyên Thủy có mặt ở Việt Nam .

Do ảnh hưởng Phật giáo Nguyên thủy Campuchia  nên chùa Bửu Quang hồi đó xây theo truyền thống nguyên thủy  hướng Đông ý nói Phật thành đạo hướng mặt ở hướng Đông. Ba mươi nhà sư tụng kinh từ 3 g sáng cho đến khi  bình minh lên, giống như Phật ngồi thiền cho đến khi sao mai ló dạng đắc thành đạo quả. Lúc bấy giờ, các nhà sư kéo tấm vải che tượng phật, mở cổng chùa về hướng Đông và tiến hành nghi thức kiết giới sima.

Ngài Thiện Luật ở chùa Bửu Quang đưa ngài Hộ Giác qua Campuchia chữa bệnh. Năm 1957 ngài Thiện Luật về chùa Kỳ Viên cùng với các hòa thượng Hộ Tông, Bửu Chơn v.v… chính thức đệ đơn thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam tồn tại đến năm 1981.

Năm 1957 thành lập Gíao hội tăng già Nguyên Thủy Việt Nam , ngài Thiện Luật được bầu làm Tăng thống lý do ngài là vị cao tăng đầu tiên của Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam  nhưng do ngài khiêm tốn, ngài nói : ‘’Tôi tu trước nhưng ngài Hộ Tông là thầy chỉ pháp cho tôi, tuy tôi lớn hạ nhưng thỉnh cầu Hòa Thượng Hộ Tông làm Tăng thống. Hòa Thượng Thiện Luật giữ chức Phó Tăng thống cho đến ngày viên tịch.

Như vậy, Hòa Thượng Hộ Tông là Tăng thống đầu tiên của Gíao Hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam.

Từ 1957, Thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam trụ sở đặt tại chùa Kỳ Viên số 610 Phan Đình Phùng- Sài Gòn. Năm 1963 là thời kỳ pháp nạn, Ngô Đình Diệm ngược đãi Phật giáo. Mặc dù vậy, trước ngày khánh thành Thích Ca Phật Đài thành lập Ủy ban Liên phái để tham dự Lễ khánh thành Thích Ca Phật Đài. Chính Ủy ban này là tiền đề cho việc bảo vệ Phật giáo vào năm 1963 tại Sài Gòn.

1964 Gíao Hội Tăng già Nguyên Thủy sát nhập với Giaó Hội Phật Gíao Việt Nam Thống Nhất,  Hòa thượng Thiện Luật được suy cử làm Phó tăng thống cho đến năm 1969.

Sự đóng góp của Hòa  thượng Thiện Luật cho Gíao Hội Phật Gíao Việt Nam Thống Nhất rất lớn. Ngài vừa làm Phó Tăng thống của GHPGVNTN và Phó tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Phật giáo ngày nay hưng thịnh nhờ công đức của Ngài rất nhiều.

Năm 1959 thành lập chùa Pháp Quang là nơi nuôi tăng chúng đông nhứt Sài Gòn. Chùa Pháp Quang do Hòa thượngThiện Luật trụ trì, thành lập Phật học viện, là nơi đào tạo các vị tăng tài kế thừa giáo hội. Đối với công việc hoằng pháp, các vị cao tăng rất vất vả. Về hoằng pháp ở Việt Nam, quý ngài rất vất vả, vì Việt Nam xứ tàu hủ ăn chay, nguyên thủy ăn theo tam tịnh nhục, tụng kinh tiếng Phạn….nên các ngài rất vất vả trong truyền bá Phật pháp, từ việc giải thích kinh tụng, giải thích ăn chay ăn mặn….thiệt vô cùng khó. 

Về Việt Nam  lập chùa , Hòa thượng Thiện Luật là người đến chùa Kỳ Viên đầu tiên,  tiếp nhận chùa Phổ Minh do hệ phái Bắc tông giao lại. Chùa Phổ Minh thờ nhiều tượng phật, ngài cho sửa sang lại, chỉ thờ một Phật Thích Ca.

Bà năm chủ chùa, thấy các tượng phật mất hết, bà nói chắc ổng ăn hết rồi!…hiểu lầm , làm khó, duyên không đủ. Nên Hòa thượng Thiện Luật bàn giao lại cho ngài  Hòa thượng Bửu Chơn quản lý chùa này và tồn tại cho đến hôm nay là Hòa thượng Thiện Tâm chủ trì.

Năm 1959 Hòa thượng Thiện Luật lập chùa Pháp Quang thuyết pháp, giảng đạo cho phật tử địa phương. Sau cùng Hòa Thượng Giới Nghiêm thành lập chùa Tam Bảo ở Đà Nẵng. Còn nhiều hình ảnh lưu lại cho thấy một vị sư già đi miền Trung giảng đạo, thuyết pháp, lập chùa ở vùng đất xa xôi này. Ngài gắn bó với tổ quốc, với cách mạng , có công nuôi cán bộ cách mạng, có nhiều thư chúc tết của Bác Hồ gởi mỗi năm cho ngài Thiện Luật. Đệ tử của ngài cũng có công đóng góp cho cách mạng nhưng họ chẳng hề kể công, chỉ âm thầm tu hành mà thôi.

Về chứng nhân, Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Hiển Pháp chùa Hưng Phước biết rất nhiều về ngài, Hòa thượng Thiện Nhơn biết ngài: cảm kích, rúng động khi thấy Hòa thượng chống gậy ra Dinh Độc Lập  phản đối họ Ngô ngược đãi phật giáo.

Có 5 bài pháp của Hòa thượng: Pháp bố thí, hướng dẫn bố thí, cách làm phước. Bài thứ hai gỉang về pháp vô thường, khổ, vô ngã…. ngài nhắc đi nhắc lại ( bài ruột ) sự vô thường , khổ não, vô ngã để chúng ta nhàm chán mà ly tham,  tu tập cho tốt. Bài thứ ba thuyết về lục hòa: thân hòa, khẩu hòa, ý hòa, giới hòa, lợi hòa, kiến hòa. Do Hòa thượng nuôi chúng tăng nhiều nên thường thuyết về lục hòa . Đây là pháp đoàn kết, thông cảm cho nhau trong tăng chúng. Lợi hòa đồng quân. Giới hòa đồng tu…

Hiện nay vẫn còn lại bình bát, chiếc y, hủ cốt của Hòa thượng Thiện Luật. Khi ngài bịnh, những ngày cuối bịnh nặng rất đau nhức nhờ ngài tu nên thân bệnh, tâm không bệnh. Hòa thượng mất ngày 21/8/1969 nhằm ngày9 tháng 7 năm Kỷ Dậu tại chùa Pháp Quang.

Lễ tang của một vị cao tăng của Phật giáo Nguyên thủy, là Phó Tăng thống Giaó Hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam, Gíao Hội Phật Giaó Việt Nam Thống Nhất kéo dài 7 ngày 7 đêm, tăng ni toàn quốc về viếng rất đông, vô cùng trọng thể tổ chức tại chùa Ấn Quang.

 Đệ tử Ngài rất đông nhưng do cuộc sống tu hành của Ngài luôn giữ hạnh khiêm tốn nên sau này không nhiều người biết đến Ngài.

Kể về một cao tăng với oai đức và đạo lực vô cùng cao sâu, hơn 30 năm từ khi tu cho đến khi viên tịch Hòa thượng Thiện Luật không ngừng lo cho GHTGNTVN và GHPGVNTN. Đối với Phật Gíao Việt Nam, Nam tông là hệ phái chính,  hệ phái nôi. Phật giáo Nguyên thủy tuy số lượng ít nhưng là tinh hoa của Phật Gíao Việt Nam.  Các nước trong khu vực Châu Á như Miến Điện, Thái Lan, Campuchia Phật giáo Nguyên thủy là quốc giáo.  

 Hòa thượng Thiện Luật- vị cao tăng thạc đức mãi mãi là tấm gương sáng cho tăng chúng noi theo. Chúng con luôn ghi lòng tạc dạ ân đức của Ngài, mong muốn đền đáp ơn Ngài, trả nợ hạnh nguyện của Ngài, con định viết năm ngoái, nay nửa mùa hạ cũng chưa xong. Hôm nay kể đôi nét về Ngài, nếu thiếu sót mong Ngài thứ lỗi cho con.

Năm 1969, trước khi Hòa thượng Thiện Luật viên tịch, Hòa thượng Hộ Giác có tổ chức lễ mừng thọ Hòa thượng ân sư. Trong lễ mừng thọ, Hòa thượng Hộ Giác có đọc bài thơ. Nội dung như sau: 

Bạch Sư Phụ con cuối đầu phủ phục.

Xin cha già tha tội đứa con côi

Mẹ mất đi thân con sớm nổi trôi

Sống vất vã nơi chùa Miên hẻo lánh

Phận côi cúc con sống nhờ bá tánh

Chén cơm thừa mắn múi nước ven sông

Con cam tâm để Sư Phụ được yên lòng

Lo tu niệm để vẹn tình cùng quá cố

Tuổi bé thơ con đã gây nhiều sống động

Làm cho cha già phải bận tâm lo

Thầy an tâm đừng lo nghĩ cho thân nầy

Gì nó đã quen với đọa đày khổ cực

Phần chị hai con quyết tâm bảo trợ

Cho đến ngày nhắm mắt xui tay

Chị hai và con xin dập đầu cúi lại

Kính dâng thầy những lá áo Cà Sa

Trai đường thư viện chúc ít gọi là

Trẻ thơ báo hiếu cha già mừng vui

Gương thầy sáng để lại cho con soi

Dù cho sống chết con nguyện noi gương thầy

Trước khi dứt lời, cầu nguyên Tam bảo gia hộ cho Ngài Thiện Luật an vui nơi phật quốc.

 

 

                                                                                Tỳ Kheo Thiện Minh

  

Bình luận

  • Security code

Lên đầu trang